This is default featured slide 1 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 2 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 3 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 4 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 5 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

Chủ Nhật, 31 tháng 12, 2000

Những sự thật về tình trạng đau đầu ở trẻ em

Một số nguyên nhân gây đau đầu ở trẻ gồm khóc nhiều, mất nước, bỏ bữa, bỏ ăn, căng thẳng hoặc căng cơ.

Đau đầu có thể là đau đầu nguyên phát hoặc thứ phát. Đau đầu thứ phát chỉ là triệu chứng của một số bệnh khác trong khi đau đầu nguyên phát là đau đầu không có bất cứ nguyên nhân y tế nào khác.

Đau nửa đầu là một loại đau đầu chính. Ngay cả những cơn nhức đầu xảy ra do căng thẳng cũng được coi là những loại đau đầu chính. Đau đầu do căng thẳng thường dẫn đến đau ở đầu và thái dương.

Ít nhất 10% trẻ bị đau nửa đầu. Loại đau đầu này gây nên cảm giác đau nặng và có thể gây rắc rối cho trẻ trong nhiều giờ. Thậm chí trẻ có thể bị nôn.

Đau đầu thứ phát có thể là kết quả của nhiễm trùng, lo âu, trầm cảm, vấn đề xoang hoặc đau nhẹ ở những khu vực như cổ hoặc đầu.

Những cơn đau đầu từng chuỗi có thể xuát hiện ở trẻ 10 tuổi trở lên. Những cơn đau đầu này thậm chí có thể kéo dài 7 ngày hoặc hơn. Đau có thể xuất hiện đằng sau mắt. Tiếp theo có thể là bị đỏ mắt và chảy nước mắt. Mắt và trán thậm chí có thể sưng lên.

Đau đầu thường xuyên cũng có thể do khối u. Vì vậy nếu trẻ than phiền về tình trạng đau đầu liên tục, tốt nhất hãy đưa trẻ đi khám để phát hiện bệnh kịp thời.

BS Thu Vân

(Theo Univadis/ Boldsky)

Dấu hiệu nhận biết sớm sốt xuất huyết

Sốt xuất huyết Dengue (SXHD) có thể gặp ở mọi lứa tuổi nhưng thường gặp nhất là trẻ em dưới 15 tuổi (chiếm 90%). Bệnh rất nguy hiểm vì tốc độ lan truyền nhanh, chưa có thuốc đặc trị và chưa có vắc-xin phòng bệnh. Do vậy, chúng ta cần phải phát hiện sớm để được điều trị kịp thời, thích hợp.

Dấu hiệu nhận biết sớm

Mặc dù khoa học đã có nhiều tiến bộ vượt bậc trong chẩn đoán, xử trí và phòng các bệnh nhiễm trùng nhưng hiện nay, SXHD vẫn còn là một vấn đề sức khỏe cộng đồng. Sự di dân kết hợp với tốc độ đô thị hóa quá nhanh cùng với sự thay đổi lối sống làm gia tăng nơi sinh sản, phát triển của muỗi truyền bệnh khiến tình hình dịch bệnh có xu hướng ngày càng gia tăng. SXHD có đặc trưng bởi sốt, xuất huyết và thoát huyết tương từ lòng mạch ra khoảng gian bào dẫn đến sốc do giảm thể tích tuần hoàn và rối loạn đông máu thứ phát sau sốc kéo dài. Do vậy, nếu không được chẩn đoán sớm và điều trị đúng, kịp thời sẽ dẫn đến tử vong.

Những đám xuất huyết dưới da.

Khi dịch SXHD xảy ra tại địa phương, số người mắc bệnh thường rất lớn. Mặt khác, một người có thể bị mắc nhiều lần trong đời và những lần nhiễm sau nguy hiểm hơn những lần nhiễm trước. Do vậy, chúng ta cần phải phát hiện sớm để được điều trị kịp thời, thích hợp cũng như thực hiện các biện pháp phòng chống nhằm bảo vệ con em và gia đình chúng ta cũng như cộng đồng nơi chúng ta đang sinh sống.

Thông thường, bệnh SXHD có quá trình diễn biến trong 7 ngày với các triệu chứng như sốt cao, đau đầu, đau mỏi người, đau cơ, đau nhức hốc mắt, mệt mỏi, phát ban và có xuất huyết trên da, chảy máu cam, chảy máu chân răng. Triệu chứng cần chú ý và nó làm cho nhiều người bệnh chủ quan đó là khi người bệnh hết sốt, đây là thời kỳ rất nguy hiểm nếu chúng ta không phát hiện những dấu hiệu cảnh báo nặng.

Những dấu hiệu cảnh báo nặng

Người bệnh vật vã, lừ đừ, li bì, đau bụng vùng gan hoặc ấn đau vùng gan, gan to trên 2cm, nôn nhiều, xuất huyết niêm mạc, tiểu ít. Xét nghiệm máu: Hematocrit tăng cao, tiểu cầu giảm nhanh chóng. Khi người bệnh có những dấu hiệu cảnh báo trên, phải theo dõi sát mạch, huyết áp, số lượng nước tiểu, làm xét nghiệm hematocrit, tiểu cầu và có chỉ định truyền dịch kịp thời. Nếu các thầy thuốc không phát hiện và xử trí đúng, bệnh nhân sẽ diễn biến nặng với bệnh cảnh của SXHD nặng như sốc, xuất huyết nặng và suy đa tạng.

Sốc SXHD với biểu hiện của suy tuần hoàn cấp, thường xảy ra vào ngày thứ 3 - 7 của bệnh, biểu hiện bởi các triệu chứng như vật vã; bứt rứt hoặc li bì; lạnh đầu chi, da lạnh ẩm; mạch nhanh nhỏ, huyết áp kẹt (hiệu số huyết áp tối đa và tối thiểu ≤ 20mmHg) hoặc tụt huyết áp hoặc không đo được huyết áp; tiểu ít. Sốc SXHD được chia ra 2 mức độ để điều trị bù dịch:

Sốc SXHD: Có dấu hiệu suy tuần hoàn, mạch nhanh nhỏ, huyết áp kẹt hoặc tụt, kèm theo các triệu chứng như da lạnh, ẩm, bứt rứt hoặc vật vã li bì.

Sốc SXHD: Sốc nặng, mạch nhỏ khó bắt, huyết áp không đo được.

Những biểu hiện xuất huyết nặng: Chảy máu cam nặng, rong kinh nặng, xuất huyết trong cơ và phần mềm, xuất huyết đường tiêu hóa và nội tạng, thường kèm theo tình trạng sốc nặng, giảm tiểu cầu, thiếu oxy mô và toan chuyển hóa có thể dẫn đến suy đa phủ tạng và đông máu nội mạch nặng. Xuất huyết nặng cũng có thể xảy ra ở người bệnh dùng các thuốc kháng viêm như acetylsalicylic acid (aspirin), ibuprofen hoặc dùng corticoid, tiền sử loét dạ dày-tá tràng. Bên cạnh đó, bệnh nhân cũng có thể có suy tạng nặng như suy gan cấp, suy thận cấp, rối loạn tri giác, viêm cơ tim, suy tim hoặc suy chức năng các cơ quan khác. Trong quá trình diễn biến, bệnh có thể chuyển từ mức độ nhẹ sang mức độ nặng, vì vậy, khi thăm khám, cần phân độ lâm sàng để tiên lượng bệnh và có kế hoạch xử trí thích hợp.

Khi người bệnh có các dấu hiệu nghi ngờ SXH trên, gia đình cần đưa người bệnh đến cơ sở y tế để được theo dõi và điều trị kịp thời nhằm tránh những biến chứng ảnh hưởng đến tính mạng. Tuyệt đối không cho người bệnh sử dụng kháng sinh khi chưa có chỉ định của bác sĩ, không kiêng ăn và nhịn uống.

TS. Trịnh Thị Ngọc, BS. Nguyễn Văn Dũng (Khoa Truyền nhiễm Bệnh viện Bạch Mai)

Bệnh mạch máu não: Phòng ngừa từ các yếu tố nguy cơ

Từ khi còn là bào thai trong lòng mẹ đến khi ra đời và trưởng thành, hoạt động của não liên quan mật thiết đến sức khỏe nói chung. Khi mạch máu não bình thường, não được nuôi dưỡng tốt, cơ thể của chúng ta khỏe mạnh. Khi mạch máu não bị bệnh, hoạt động của các tế bào não bị ảnh hưởng ở các mức độ khác nhau, cơ thể của chúng ta sẽ rơi vào trạng thái rối loạn do mất chỉ đạo từ não bộ.

Một trong những căn bệnh gây tử vong hàng đầu

Theo số liệu thống kê hiện nay, hàng năm, trên thế giới có từ 16 - 17 triệu người mắc tai biến mạch não và có tới 6 triệu trường hợp tử vong. Như vậy, bệnh mạch máu não là nguyên nhân phổ biến gây tử vong đứng thứ hai trên toàn cầu. Sau khi được cứu chữa qua giai đoạn cấp tính, khoảng 1/4 số bệnh nhân còn di chứng như liệt vận động, rối loạn ngôn ngữ, suy yếu trí tuệ và 1/3 mắc trầm cảm. Biểu hiện lâm sàng của tai biến mạch não là cơn đột quỵ não phần lớn do nhồi máu não (75 - 80% các trường hợp), còn lại là do chảy máu não (10 - 15% các trường hợp) và chảy máu dưới nhện (5%). Nói chung, cứ 2 giây đồng hồ lại xảy ra 1 trường hợp đột quỵ não trên thế giới và như vậy, theo GS. Raad Shakir - Chủ tịch Liên đoàn Thần kinh học Thế giới - có thể nói "đột quỵ não" là bệnh dịch của thế kỷ 21.

Bệnh mạch máu nãoBệnh lý chính của mạch máu não là huyết khối trên nền vữa xơ mạch máu.

Liên quan tới nhiều cơ chế bệnh sinh khác nhau

Bệnh mạch máu não liên quan tới nhiều cơ chế bệnh sinh khác nhau. Bệnh của động mạch lớn là nguyên nhân chủ yếu gây nhồi máu não ở các nước phát triển. Bệnh lý chính là huyết khối trên nền vữa xơ mạch máu, tuy nhiên, cũng có thể gặp các bệnh khác như bóc tách động mạch, viêm mạch và bệnh Moyamoya. Bệnh của động mạch nhỏ thường gây nhồi máu não dưới vỏ não được gọi là nhồi máu ổ khuyết. Các động mạch xuyên gắn với thương tổn này thường có biến đổi cấu trúc dạng thoái hóa mỡ - kính. Một số nguyên nhân ít gặp hơn là viêm động mạch, rối loạn đông máu, bệnh động mạch não tự thể trội kết hợp nhồi máu dưới vỏ và bệnh não chất trắng (CADASIL). Ngoài ra, còn phải kể đến đột quỵ não căn nguyên ấn hoặc nhồi máu não không rõ nguyên nhân.

Những yếu tố nguy cơ

Các yếu tố nguy cơ đối với bệnh mạch máu não là: tăng huyết áp, rối loạn lipid máu, hút thuốc lá, sử dụng nhiều rượu, có bệnh tim, đái tháo đường, chế độ dinh dưỡng nghèo nàn, không hoạt động thể lực, tỉ lệ vòng bụng lớn, yếu tố tâm lý - xã hội. Ngoài ra, còn phải chú ý đến vấn đề ô nhiễm không khí và tuổi đời cao. Cần nhấn mạnh là chỉ riêng tăng huyết áp đã là yếu tố nguy cơ lớn nhất đối với đột quỵ não, có thể chiếm tới 50% các trường hợp và đồng thời cũng làm gia tăng nguy cơ chảy máu não.

Xử trí thế nào?

Trước hết, cần kịp thời phát hiện sớm các dấu hiệu như liệt mặt, liệt tay hoặc chân, hoặc liệt nhẹ nửa người, nói khó khăn, líu ríu, chóng mặt hoặc nhức đầu dữ dội xuất hiện đột ngột ở một người trước vẫn bình thường. Cần nhanh chóng vận chuyển bệnh nhân đến một cơ sở y tế gần nhất để được xử trí cấp cứu kịp thời. Không được để bệnh nhân tại nhà điều trị theo kinh nghiệm dân gian vì diễn biến của bệnh rất phức tạp, kể cả chuyên khoa sâu cũng không lường trước hết được mọi trường hợp.

Tại các bệnh viện chuyên khoa về bệnh mạch máu - thần kinh, phương pháp tiêu huyết khối đường tĩnh mạch đã được ứng dụng từ 15 năm nay trên thế giới. Việc ứng dụng kỹ thuật điều trị này sử dụng chất sinh plasmin mô tái tổ hợp làm tiêu huyết khối trong lâm sàng đã thúc đẩy xây dựng các Đơn vị/Đội/Trung tâm Đột quỵ não/Trung tâm bệnh mạch máu - thần kinh. Trong trường hợp khi phương pháp này không hiệu quả vì cục máu tắc quá lớn sẽ tiến hành xử lý bằng kỹ thuật nội mạch: sử dụng một ống thông để hút cục máu tụ ra một cách an toàn. Ở nước ta, phương pháp điều trị này đã và đang được ứng dụng tại một số đơn vị, khoa, trung tâm đột quỵ não quân và dân y.

Lời khuyên của thầy thuốcNgoài việc chăm sóc, cứu chữa bệnh nhân bị tai biến mạch não, việc phổ biến kiến thức đột quỵ não nói riêng, bệnh mạch máu não nói chung cần được hết sức quan tâm trong công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân, đặc biệt là công tác phòng bệnh. Để phòng ngừa bệnh mạch máu não, cần chú trọng điều trị tăng huyết áp, đái tháo đường, bệnh tim (rung nhĩ) cũng như tăng cường hoạt động thể lực, bỏ thuốc lá và ngừa béo phì. Mặt khác, cần định kỳ tới kiểm tra sức khỏe tại các cơ sở y tế hoặc phòng khám chuyên khoa.

GS.TS. Lê Đức Hinh

Đừng chủ quan với chảy máu tiêu hóa

Chảy máu tiêu hóa là hiện tượng máu chảy ra khỏi mạch máu, mà mạch máu ấy lại nằm trong ống tiêu hóa. Đây là một cấp cứu nội khoa và ngoại khoa. Nếu như chảy máu đường tiêu hóa trên với biểu hiện chủ yếu là nôn ra máu làm cho mọi người lưu tâm và chữa trị kịp thời thì với chảy máu đường tiêu hóa dưới đôi khi rất âm thầm khiến người bệnh dễ chủ quan. Chảy máu tiêu hóa dưới được định nghĩa là chảy máu đường tiêu hóa có nguồn gốc từ góc Treitz xuống tận hậu môn.

Chảy máu từ ruột non

Có nhiều nguyên nhân gây chảy máu ở ruột non, thông thường chảy máu ở ruột non là một trong các bệnh lý khó phát hiện nhất.

Viêm ruột xuất huyết: Thường xuất hiện khi bị nhiễm khuẩn các vi khuẩn gây bệnh bằng nội độc tố như E.Coli có nhóm huyết thanh 0 157-H7. Biểu hiện lâm sàng chủ yếu là tình trạng nhiễm khuẩn nặng, đau bụng, tiêu chảy, phân có máu tươi hoặc màu đỏ sẫm. Bệnh nhân có thể có tình trạng mất nước, nhiễm khuẩn, nhiễm độc và chảy máu. Điều trị chủ yếu là kháng sinh mạnh, bù nước và điện giải, nếu cần có thể phải truyền máu.

Bệnh Scholein Henoch: Nguyên nhân gây bệnh chưa rõ, hiện đang nghĩ nhiều đến nguyên nhân miễn dịch dị ứng. Bệnh thường xảy ra ở người trẻ tuổi. Bệnh có nhiều thể, với thể tổn thương tiêu hóa, biểu hiện chủ yếu là tình trạng nhiễm khuẩn với sốt, đau khớp, đau bụng, đại tiện phân máu thường là tươi hoặc đỏ bầm. Điều trị cần phối hợp corticoid.

Thương hàn: Ngoài những triệu chứng của bệnh cảnh thương hàn, biến chứng chảy máu thường xảy ra sau 1-2 tuần do biến chứng loét ruột, có thể kèm theo biến chứng thủng ruột. Bệnh nhân đau bụng, đại tiện phân có màu đỏ gạch hoặc đỏ sẫm. Ngoài điều trị chảy máu cần chú ý điều trị thương hàn.

Viêm ruột xuất huyết hoại tử: Đây là một cấp cứu nội - ngoại khoa. Bệnh cảnh thường là nặng nếu xảy ra ở trẻ em. Biểu hiện lâm sàng là tình trạng nhiễm khuẩn nhiễm độc nặng, sốt cao 40 - 41oC. Đau và trướng bụng, đại tiện phân đen mùi thối khắm. Điều trị bằng kháng sinh, truyền dịch, cân nhắc điều trị ngoại khoa khi có biến chứng.

Bệnh Crohn: Thường gặp là tổn thương vùng hồi manh tràng với đau bụng, đại tiện phân lỏng từng đợt kèm theo sốt, máu lắng tăng. Biến chứng chảy máu thường gặp vào giai đoạn 2 hoặc 3 của bệnh với tổn thương loét hoặc rò thủng vách ruột. Điều trị bằng kháng sinh, corticoid và thuốc ức chế miễn dịch.

Loét túi thừa Meckel: Đây là bệnh cảnh hiếm gặp, chẩn đoán lâm sàng rất khó. Bệnh có thể chảy máu từng đợt tự ngừng, có thể kèm theo sốt hoặc không, khám vùng hố chậu phải có thể đau.

Lồng ruột: Thường là lồng hồi - hồi tràng hoặc hồi - manh tràng, bệnh thường xảy ra ở những trẻ em bụ bẫm 8-9 tháng tuổi có yếu tố thúc đẩy như sau tiêu chảy. Khởi bệnh với đau bụng từng cơn sau đó có dấu hiệu tắc ruột và đại tiện phân nhầy máu. Điều trị chủ yếu bằng ngoại khoa để cắt bỏ khối lồng ruột và cầm máu.

Ngoài ra còn có thể gặp chảy máu ruột non từ các nguyên nhân hiếm gặp khác như: lao ruột, ung thư ruột non, hoặc chảy máu từ ruột non trong bệnh lý chảy máu toàn thể như trong sốt xuất huyết, bệnh bạch cầu cấp...

Chảy máu từ đại tràng

Loét túi thừa Meckel.

Là loại chảy máu thường gặp trong chảy máu tiêu hóa thấp. Do đặc điểm vị trí chảy máu thấp, nếu có tổn thương vùng trực tràng hậu môn sẽ kích thích đại tiện làm tăng số lần đi đại tiện, do đó lâm sàng thường có hội chứng lỵ hoặc giả lỵ và phân có màu đỏ tươi.

Lỵ trực trùng: Thường xảy ra ở trẻ em có yếu tố dịch tễ kèm theo. Lâm sàng có hội chứng nhiễm khuẩn có thể nhiễm độc với sốt cao, đau quặn bụng dữ dội, đại tiện nhiều lần (15-20 lần/ngày), kèm mót rặn và đau hậu môn. Phân lỏng, rất ít hoặc chỉ toàn máu, màu đỏ như máu cá hoặc nước rửa thịt. Điều trị bằng kháng sinh đặc hiệu, bù nước và điện giải, vitamin và các thuốc băng se niêm mạc.

Lỵ amíp: Bệnh cảnh lâm sàng thường nhẹ với sốt nhẹ, đau quặn bụng dọc khung đại tràng và vùng hạ vị; đại tiện phân nhầy máu, thường máu chỉ dính quanh phân có màu đỏ tươi, kèm mót rặn và đau hậu môn sau đại tiện. Điều trị bằng kháng sinh đặc hiệu, thường là nhóm metronidazol hoặc nhóm quinolon.

Ung thư đại tràng: Là bệnh lý thường gây chảy máu tiêu hóa thấp ở người già. Tùy theo vị trí ung thư đại tràng phải hay trái mà có những biểu hiện khác nhau. Ung thư đại tràng phải thường kèm theo đại tiện phân lỏng và máu đỏ sẫm. Ung thư đại tràng trái thường có dấu hiệu táo bón, đại tiện phân máu tươi. Còn ung thư trực tràng hậu môn thường kèm theo dấu hiệu kích thích đại tiện nhiều lần hoặc nhiều khi chảy máu hậu môn một cách tự nhiên. Chẩn đoán chủ yếu dựa vào chụp nhuộm đại tràng baryt hoặc nội soi sinh thiết đại tràng. Điều trị chủ yếu bằng phát hiện sớm để cắt bỏ khối u, cầm máu.

Viêm loét đại trực tràng chảy máu: Bệnh thường xảy ra ở phụ nữ trẻ, với biểu hiện từng đợt bao gồm sốt, đau khớp, đau quặn bụng dọc khung đại tràng và đại tiện ra máu, thường là máu tươi. Điều trị đáp ứng với corticoid và các thuốc ức chế miễn dịch khác.

Bệnh Crohn đại - trực tràng: Có thể kèm theo tổn thương Crohn ở các phần khác của ống tiêu hóa nhất là vùng hồi manh tràng. Bệnh có tính chất xảy ra từng đợt với sốt, máu lắng tăng, thương tổn đại tràng dài hoặc nhiều đoạn. Điều trị kết hợp nhóm kháng sinh, corticoid và ức chế miễn dịch.

Trĩ nội: Là do vỡ hoặc viêm nhiễm khuẩn búi trĩ, chủ yếu là máu tươi, có thể chảy thành tia hoặc giọt. Điều trị bằng các thuốc đặc hiệu trĩ hoặc chích xơ thắt hoặc phẫu thuật cắt bỏ búi trĩ.

Polyp đại tràng: Thường chảy máu từng đợt, do viêm loét nhiễm khuẩn các polyp. Chẩn đoán bằng chụp baryt đại tràng hoặc nội soi. Điều trị bằng đốt điện hoặc cắt bỏ qua nội soi.

Tóm lại, biểu hiện chảy máu đường tiêu hóa dưới rất đa dạng, có nhiều nguyên nhân, dễ làm người bệnh chủ quan. Vì vậy mỗi người cần có ý thức tự bảo vệ mình, nếu có biểu hiện bất thường nên tới khám sớm ở các cơ sở y tế để được chẩn đoán và điều trị kịp thời.

ThS.BS. Nguyễn Bạch Đằng

Nhận biết bệnh viêm thực quản trào ngược

Viêm thực quản trào ngược (TQTN) là tình trạng viêm loét thực quản do dịch dạ dày trào ngược lên thực quản diễn ra thường xuyên hay từng lúc. Mức độ viêm thực quản phụ thuộc vào thời gian và tần suất tiếp xúc giữa các chất trào ngược với niêm mạc thực quản. Bệnh có thể nguy hiểm đến tính mạng nếu không chữa trị kịp thời.

Yếu tố nào gây thực quản trào ngược?

Nguyên nhân của bệnh là do mất cân bằng giữa các yếu tố bảo vệ và các yếu tố tấn công. Các yếu tố bảo vệ gồm có hàng rào chống trào ngược, quá trình làm sạch lòng thực quản và sức đề kháng của lớp biểu mô. Các yếu tố tấn công gồm có: rối loạn cơ thắt dưới, rối loạn co bóp thực quản thoát vị hoành trượt (một phần dạ dày chui lên lồng ngực chậm làm rỗng dạ dày, tăng áp lực trong ổ bụng. Các nguyên nhân thuận lợi: do chế độ ăn chất béo, chocolate, uống nhiều rượu bia, hút thuốc lá, người béo phì... Do sử dụng một số thuốc như thuốc hen phế quản (theophylin), thuốc chẹn kênh canxi như thuốc hạ huyết áp nifedipin, amlor...Hình ảnh viêm thực quản.

Hình ảnh viêm thực quản.

Biểu hiện của viêm TQTN

Bao gồm các triệu chứng tại thực quản và các triệu chứng ngoài thực quản:

Các triệu chứng tại thực quản: Có 2 triệu chứng điển hình là ợ nóng (nóng rát sau xương ức) và ợ thớ. Ngoài ra còn một số triệu chứng có thể gặp như: đau vùng thượng vị, buồn nôn, đắng miệng, chua miệng, hôi miệng, cảm giác vướng cổ, nuốt khó, nuốt đau.

Các triệu chứng ngoài thực quản: Các triệu chứng đã xác định như ho mạn tính, viêm thanh quản, hen phế quản, mòn răng.

Các triệu chứng liên quan: Viêm họng, viêm xoang, xơ hóa phổi vô căn và viêm tai giữa.

Cơn đau ngực không do tim: đau âm ỉ dai dẳng vùng ngực bên trái có thể có lúc đau trội lên nhưng không có cơn đau dữ dội kèm theo khó thở.

Các biến chứng của viêm TQTN: Loét thực quản từ mức độ nhẹ đến mức độ nặng, barrett thực quản (dị sản và loạn sản đoạn nối giữa thực quản và dạ dày) từ mức độ nhẹ tới mức độ nặng và cuối cùng là ung thư thực quản.

Nhận biết viêm TQTN và điều trị

Các triệu chứng của bệnh sẽ đánh giá mức độ bệnh như: triệu chứng nóng rát giữa ngực, sau xương ức mấy ngày trong tuần? Bạn có triệu chứng ợ hơi, ợ chua hoặc thức ăn từ dạ dày lên cổ họng, đau vùng bụng, buồn nôn, khó ngủ vào ban đêm...

Các phương pháp thăm dò khác: Chụp thực quản có thuốc cản quang, đo độ PH trong thực quản, nhấp nháy phóng xạ và nội soi thực quản để đánh giá có loét hay không và mức độ loét và biến chứng barrett thực quản, ung thư thực quản.

Tuy nhiên, có tới 60% bệnh nhân bị viêm TQTN mà không có loét thực quản, do đó nếu soi thực quản mà không có loét cũng không loại trừ bệnh viêm TQTN (được gọi là viêm TQTN thể không có loét).

Cần chỉ định nội soi cho những bệnh nhân sau: đã điều trị thử bằng thuốc ức chế bài tiết acid (PPI) trong 4 tuần mà không đỡ, bệnh nhân có các triệu chứng cảnh báo như tuổi trên 45, gầy sút, thiếu máu, nuốt đau và nuốt khó tăng dần.

Nhận biết bệnh viêm TQTN với một số các bệnh như: Loét thực quản do thuốc và do các nguyên nhân khác, ung thư thực quản co thắt thực quản, loét dạ dày - hành tá tràng, ung thư dạ dày, bệnh lý tuyến giáp.

Điều trị viêm TQTN

Điều trị thử bằng các thuốc ức chế tiết acid. Nguyên tắc điều trị tăng cường yếu tố bảo vệ, giảm hoặc loại bỏ yếu tố tấn công. Có 3 phương pháp điều trị: nội khoa, nội soi và ngoại khoa.

Cần thay đổi lối sống: Không hút thuốc lá, không rượu bia, tránh ăn nhiều chocolate, hạt tiêu, ớt, không ăn quá no, sau ăn không nằm ngay, kê cao giường khi ngủ, không mặc quần áo quá chật. Tránh hoặc hạn chế dùng một số thuốc như hen phế quản (theophylin), thuốc ngủ, thuốc chẹn kênh canxi, thuốc giảm đau...

Trong điều trị: Hiện nay, thuốc được lựa chọn đầu tiên là các thuốc ức chế bơm photon (PPI). Thời gian điều trị 4 - 8 tuần phụ thuộc vào tổn thương loét thực quản và đáp ứng điều trị của bệnh nhân; Thuốc trung hòa acid, trung hòa muối mật; Thuốc hỗ trợ nhu động; Thuốc có tác dụng làm rỗng dạ dày nhanh hơn và giúp co thắt thực quản dưới tăng co thắt...

Điều trị nội soi: Cắt tổ chức ung thư sớm thực quản qua nội soi: cắt lọc dưới niêm mặc (ESD), cắt hớt niêm mạc (EMR) hoặc bằng đợt sóng cao tần (RFA), nong hoặc đặt stend (ống thông) thực quản khi có hẹp thực quản.

Điều trị ngoại khoa: Tạo hình môn vị (Fundoplication) thủ thuật nissen, thủ thuật hill, thủ thuật belsey. Mổ khi có loạn sản độ cao và ung thư thực quản.

Viêm TQTN là bệnh phổ biến, ngày càng tăng, bệnh do nhiều nguyên nhân và hay tái phát. Bệnh có biểu hiện các triệu chứng tại thực quản và ngoài thực quản. Để chẩn đoán bệnh cần hỏi kỹ bệnh nhân hoặc có thể điều trị thử bằng thuốc ức chế bài tiết acid . Khi có chỉ định cần nội soi thực quản để phát hiện loét và các biến chứng ở thực quản. Khi có biến chứng cần được điều trị và theo dõi định kỳ để phát hiện ung thư sớm thực quản.

TS.BSCKII. Phạm Thị Bình

Kiểm soát nguyên nhân gây loãng xương

tiền sử gia đình (nếu một vài người trong gia đình đã có hoặc đang bị loãng xương thì sẽ có nguy cơ cao hơn bị loãng xương); giới tính (nữ giới khả năng sẽ tiến triển bị loãng xương hơn nam giới); sắc tộc (người da trắng và da vàng thì nguy cơ loãng xương cao hơn người da đen). Tuy nhiên, có những nguyên nhân loãng xương mà chúng ta hoàn toàn có thể kiểm soát được.

Do thiếu hụt hormon estrogen

Estrogen có tác dụng bảo vệ xương, bởi thế, nếu chúng ta có lượng estrogen thấp có nghĩa là có nguy cơ cao hơn tiến triển thành bệnh loãng xương. Mãn kinh gây nên sự tụt giảm rất nhanh hàm lượng estrogen, đây là lý do tại sao những phụ nữ sau tuổi mãn kinh cần đặc biệt cảnh giác với sức khỏe xương của bản thân. Tỷ lệ mất xương ở phụ nữ từ 4 - 8% một năm trong vài năm sau khi hai buồng trứng ngừng sản xuất estrogen.

Cũng như vậy, ở những phụ nữ vì lý do nào đấy phải cắt cả hai buồng trứng thì nguy cơ loãng xương cũng tăng cao do hai buồng trứng là nơi sản xuất rất nhiều estrogen cho cơ thể. Do đó, phụ nữ sau mãn kinh hoặc phụ nữ bị cắt hai buồng trứng cần đi khám và chỉ định sử dụng estrogen thay thế.

Thậm chí, nếu bạn là một phụ nữ trẻ và còn vài năm nữa là tới thời kỳ mãn kinh, bạn nên suy nghĩ về mức độ estrogen của bạn ngay từ bây giờ. Kinh nguyệt không đều có thể là biểu hiện của mức độ estrogen thấp và là một cảnh báo sớm để chăm sóc xương của bạn. Kinh nguyệt không đều cũng có thể do tập thể dục quá sức hoặc ăn uống quá ít, hoặc cả hai nguyên nhân này thì đều có thể làm tăng mất xương.

Đàn ông cũng có estrogen, nhưng ở đàn ông, nó là testosteron để bảo vệ xương. Những người đàn ông có hormon sinh dục thấp thì có nguy cơ loãng xương cao hơn.

Tiền sử gãy xương

Nếu chúng ta từng bị gãy xương thì có thể có nguy cơ cao hơn bị loãng xương so với những người khác do xương bị gãy có thể là do mật độ xương thấp.

Nhẹ cân

Những phụ nữ nhỏ bé và xương nhỏ cần cẩn trọng với loãng xương do khối lượng xương trong cơ thể thấp.

Chế độ ăn uống, tập luyện

Bất cứ ai có một chế độ ăn uống kiêng kem quá mức hay thói quen ăn uống thiếu chất có thể không nhận đủ canxi và các khoáng chất khác để làm xương chắc khỏe. Bên cạnh đó, ăn quá nhiều một số chất có thể gây hại cho xương. Protein: là chất quan trọng cho cơ thể, nhưng khi ăn quá nhiều có thể làm giảm canxi; uống nhiều hay lạm dụng café, rượu làm giảm sự hấp thu canxi và giảm khả năng sử dụng canxi của cơ thể. Hút thuốc lá làm tăng nguy cơ loãng xương theo một vài cách. Những hóa chất trong thuốc lá làm cơ thể khó sử dụng canxi, đồng thời khiến hormon estrogen không thực hiện nhiệm vụ của nó. Không tập thể dục làm xương yếu và dễ loãng xương.

Kiểm soát nguyên nhân gây loãng xươngTập luyện, thể dục thường xuyên giúp phòng loãng xương. Ảnh: TM

Mỗi ngày, cơ thể cần phải nhận được một lượng vừa đủ các loại vitamin và khoáng chất khác nhau để thúc đẩy sự phát triển xương. Những gì chúng ta ăn có thể có một tác động đáng kể nguy cơ phát triển bệnh loãng xương. Một số loại vitamin và khoáng chất quan trọng thúc đẩy sự phát triển xương cần thiết cho cơ thể:

Canxi: là chất giúp cho xương của chúng ta lớn lên và tái sinh, nếu chúng ta không có đủ canxi mỗi ngày thì xương chúng ta sẽ bị yếu. Không chỉ đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển xương, canxi còn giúp duy trì hoạt động của các cơ bắp, kích thích máu lưu thông và phát tín hiệu cho các tế bào thần kinh đồng thời điều tiết các hormon trong cơ thể.

Vitamin D: Canxi cần vitamin D vì không có nó, cơ thể chúng ta sẽ không thể hấp thu và sử dụng canxi một cách hiệu quả. Không có đủ vitamin D trong khẩu phần ăn thì khi chúng ta có cung cấp nhiều canxi cho cơ thể cũng vẫn lãng phí và do vậy ảnh hưởng tới xương.

Những vitamin và khoáng chất khác: photpho, magie, vitamin K, vitamin B6 và vitamin B12 thì cũng quan trọng cho sự phát triển xương.

Một số bệnh có thể dẫn tới loãng xương

Loãng xương cũng có thể là hậu quả của một bệnh hoặc do việc lạm dụng một số loại thuốc. Tình trạng này được gọi là loãng xương thứ phát.

Các vấn đề về tiêu hóa: điều này có thể gây trở ngại trong vấn đề hấp thu canxi và vitamin D, điều này làm cơ thể khó khăn trong việc tái sinh xương (ví dụ hội chứng ruột kích thích).

Các bệnh về thận: các vấn đề về thận có thể gây mất canxi, làm xáo trộn sự cân bằng giữa quá trình tạo xương và hủy xương.

Bệnh về tuyến giáp và cận giáp: cường cận giáp trạng làm cho cơ thể tạo ra quá nhiều hormon cận giáp làm dẫn tới mất xương. Cường giáp tạo tình trạng quá nhiều hormon tuyến giáp trong cơ thể làm xương bị yếu.

Một số thuốc gây loãng xương

Như thuốc chống co giật hoặc thuốc chống động kinh; thuốc giảm axít dịch dạ dày có aluminum; Costicosteroid: Prednison là một costeicosteroid có thể gây mất xương rất mạnh.

Hormon tuyến giáp: ở những người suy giáp hoặc phải cắt bỏ tuyến giáp có thể phải sử dụng hormon tuyến giáp, việc sử dụng quá nhiều hormon này có thể làm xương yếu.

Lời khuyên của thầy thuốcMặc dù nhiều yếu tố nguy cơ, nhưng loãng xương là một tình trạng bệnh có thể ngăn chặn. Phòng ngừa bằng cách ăn thực phẩm đa dạng, giàu vitamin và khoáng chất chứa đủ số lượng canxi và vitamin D; đặt kế hoạch tập luyện hàng ngày; tạo dựng những thói quen sinh hoạt lành mạnh (như không hút thuốc, uống rượu). Ngoài ra, cũng có thể sử dụng một số loại thuốc chống loãng xương theo chỉ định của bác sĩ.

TS.BS. Nguyễn Hoàng Long (BV Việt Đức)

7 dấu hiệu sớm của ung thư máu

Sốt

Sốt là một trong những dấu hiệu sớm nhất của bệnh bạch cầu. Thân nhiệt tăng là phản ứng của cơ thể chống lại các nhiễm trùng xâm nhập. Khi cơ thể bị ảnh hưởng bởi bệnh bạch cầu, khả năng chống nhiễm trùng của tế bào sẽ giảm nghiêm trọng.

Chảy máu không giải thích

Bất cứ trường hợp chảy máu không giải thích nào từ bất kỳ ổ ung thư nào của cơ thể như miệng, mũi, trực tràng hoặc niệu đạo cũng cần phải được kiểm tra sớm nhất.

Phát ban, nổi mụn hoặc ban xuất huyết giảm tiểu cầu trên cơ thể

Một trong những dấu hiệu của bệnh bạch cầu là số lượng tiểu cầu thấp. Khi không có đủ những tế bào máu đông này trong cơ thể, cơ thể sẽ xuất hiện các vết bầm và chảy máu. Ban xuất huyết giảm tiểu cầu xảy ra khi các mạch máu nhỏ vỡ dưới da do số lượng tiểu cầu thấp.

Đổ mồ hôi đêm

Đổ mồ hôi đêm có thể là một trong những dấu hiệu cảnh báo bệnh bạch cầu.

Mệt mỏi

Số lượng haemoglobin giảm xuống khi bạn bị bệnh bạch cầu. Haemoglobin là thành phần trong tế bào hồng cầu chịu trách nhiệm vận chuyển oxy. Vì vậy, khi những tế bào này chết đi, bạn sẽ cảm thấy mệt mỏi và thở gấp hơn bình thường.

Đau ngực, sưng bàn chân

Đau ngực liên tục và sưng bàn chân là dấu hiệu thường gặp ở bệnh nhân bị bệnh bạch cầu với các rối loạn về chảy máu và đông máu.

Các nhiễm trùng tái phát

Số lượng tế bào bạch cầu giảm làm cơ thể giảm khả năng chống lại nhiễm trùng. Điều này khiến bệnh nhân dễ bị nhiễm trùng.

BS Thu Vân

(Theo Univadis/ THS)